Quá trình phân định biển trong Vịnh Bắc Bộ
Lễ ký Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong vịnh Bắc Bộ ngày 25/12/2000

Lễ ký Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong vịnh Bắc Bộ ngày 25/12/2000

Vị trí chiến lược quan trọng

Vịnh Bắc Bộ là một trong những vịnh lớn ở Đông Nam Á và thế giới, có diện tích khoảng 126.250 km2 (36.000 hải lý vuông), chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 310 km (176 hải lý).

Vịnh Bắc Bộ do bờ biển của hai nước Việt Nam và Trung Quốc bao bọc, bao gồm bờ biển Đông Bắc Việt Nam, bờ biển phía Nam tỉnh Quảng Tây, bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam của Trung Quốc.

Vịnh có hai cửa: eo biển Quỳnh Châu nằm giữa bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam với bề rộng khoảng 19 hải lý và cửa chính của vịnh từ đảo Cồn Cỏ (Việt Nam) tới mũi Oanh Ca (đảo Hải Nam), rộng khoảng 220 km (119 hải lý). Chiều dài bờ biển phía Việt Nam khoảng 763 km, phía Trung Quốc khoảng 695 km.

Phần vịnh phía Việt Nam có khoảng 2.300 đảo, đá ven bờ, đặc biệt có đảo Bạch Long Vĩ nằm cách đất liền Việt Nam khoảng 110 km, cách đảo Hải Nam Trung Quốc khoảng 130 km.

Với đặc điểm cấu tạo trên, khi cả Trung Quốc và Việt Nam mở rộng vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa theo Công ước 1982 sẽ tạo ra vùng chồng lấn giữa Vịnh cần phải giải quyết.

Do Vịnh là một biển nửa kín, nên hai nước, căn cứ Công ước 1982, có nghĩa vụ hợp tác với nhau (Điều 63, 123).

Vịnh Bắc Bộ có vị trí chiến lược quan trọng đối với Việt Nam và Trung Quốc cả về kinh tế lẫn quốc phòng - an ninh. Hai nước đều có nhu cầu đàm phán giải quyết phân định.

Giữa hai nước đã có 3 lần đàm phán về Vịnh Bắc Bộ. Các cuộc đàm phán phân định Vịnh Bắc Bộ năm 1974 (ngày 15/8/1974-ngày 22/11/1974) và năm 1977-1978 (tháng 10/1977-tháng 6/1978) không đi đến kết quả vì lập trường hai bên cách xa nhau.

Sau khi bình thường hóa quan hệ năm 1991, ngày 19/10/1993, hai nước ký “Thoả thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”, trong đó quy định: “hai bên sẽ áp dụng luật quốc tế và tham khảo thực tiễn quốc tế, theo nguyên tắc công bằng và tính đến mọi hoàn cảnh hữu quan trong vịnh để đi đến một giải pháp công bằng”.

Việt Nam đã đề nghị lấy Công ước 1982 làm cơ sở pháp lý để phân định Vịnh Bắc Bộ. Việt Nam là thành viên của Công ước từ năm 1994. Trung Quốc phê chuẩn Công ước năm 1996.

Vì vậy, chỉ từ năm 1996, Công ước mới thực sự trở thành cơ sở pháp lý chung của hai nước trong giải quyết các vấn đề liên quan đến Vịnh Bắc Bộ.

Các vòng đàm phán

Trong 10 năm (1991-2000), đàm phán giữa hai nước về phân định Vịnh Bắc Bộ đã tiến hành ba vòng cấp chính phủ, ba cuộc gặp không chính thức cấp trưởng đoàn đàm phán cấp chính phủ, 18 vòng cấp chuyên viên nhóm công tác liên hợp, chín vòng họp không chính thức tổ chuyên viên liên hợp, 10 vòng họp tổ chuyên gia đo vẽ phục vụ phân định và xây dựng Tổng đồ Vịnh Bắc Bộ và một số cuộc gặp khác.

Theo Công ước, việc phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phải tuân thủ nguyên tắc công bằng. 

Trong 3 ngày từ 21-23/4/2020, trên vùng biển Vịnh Bắc Bộ đã diễn ra chuyến kiểm tra liên hợp nghề cá Việt Nam - Trung Quốc lần thứ nhất - năm 2020

Trong 3 ngày từ 21-23/4/2020, trên vùng biển Vịnh Bắc Bộ đã diễn ra chuyến kiểm tra liên hợp nghề cá Việt Nam - Trung Quốc lần thứ nhất - năm 2020

Căn cứ vào Công ước 1982, các nguyên tắc pháp lý và thực tiễn quốc tế được công nhận, trên cơ sở suy xét đầy đủ mọi hoàn cảnh hữu quan trong Vịnh Bắc Bộ, theo nguyên tắc công bằng, qua thương lượng hữu nghị hai bên đã thống nhất ký Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ ngày 25/12/2000, với những nội dung sau:

Xác định đường đóng cửa sông Bắc Luân là đường nối hai điểm nhô ra nhất của cửa sông tự nhiên trên bờ sông hai nước, tại ngấn nước triều thấp nhất.

Xác định phạm vi phân định Vịnh Bắc Bộ: Trong hiệp định này, Vịnh Bắc Bộ là vịnh nửa kín được bao bọc ở phía bắc là bờ biển lãnh thổ đất liền của hai nước Việt Nam và Trung Quốc, phía Đông là bờ biển bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam của Trung Quốc, phía Tây là bờ biển đất liền Việt Nam và giới hạn phía Nam là đoạn đường thẳng nối liền từ điểm nhô ra nhất của mép ngoài cùng của mũi Oanh Ca trên đảo Hải Nam của Trung Quốc, có tọa độ địa lý 18o30’19” Bắc, 108o41’17” Đông, qua đảo Cồn Cỏ đến một điểm trên bờ biển của Việt Nam có tọa độ địa lý là 16o57’40” Bắc, 107o08’42” Đông.

Đồng ý đường phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ được xác định bằng 21 điểm có tọa độ địa lý xác định, nối tuần tự với nhau bằng các đoạn thẳng.

Đường phân định từ điểm số 1 đến điểm số 9 quy định tại Điều II của hiệp định là biên giới lãnh hải của hai nước trong Vịnh Bắc Bộ.

Mặt thẳng đứng đi theo đường biên giới lãnh hải của hai nước phân định vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải hai nước. Đường phân định từ điểm số 9 đến điểm số 21 là ranh giới giữa vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong Vịnh Bắc Bộ.

Hai bên ký kết phải tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mỗi bên đối với lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ được xác định theo hiệp định.

Đồng ý dành cho Bạch Long Vỹ hiệu lực 15 hải lý tính từ điểm nhô ra nhất của đảo về phía Đông và đảo Cồn Cỏ được tính 50% hiệu lực trong phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Như vậy, Bạch Long Vỹ được hưởng 25% hiệu lực trong phân định. Đảo đã mang lại thêm cho Việt Nam 300 km2 vùng biển xung quanh.

Bãi Bạch Tô Nham (Trung Quốc) và các đảo Chàng Đông, Chàng Tây (Việt Nam) có hiệu lực nhất định trong phân định lãnh hải.

Cam kết mọi tranh chấp giữa hai bên ký kết liên quan đến việc giải thích và thực hiện hiệp định này sẽ được giải quyết một cách hòa bình, hữu nghị thông qua thương lượng.

Trong trường hợp có các cấu tạo mỏ dầu, khí tự nhiên hoặc cấu tạo mỏ khác hoặc tài nguyên khoáng sản khác nằm vắt ngang đường phân định, hai bên ký kết thông qua hiệp thương hữu nghị để đạt được thỏa thuận về việc khai thác hữu hiệu nhất các cấu tạo hoặc khoáng sản nói trên cũng như việc phân chia công bằng lợi ích thu được từ việc khai thác.

Việc phân định vịnh Bắc Bộ hai nước theo hiệp định này không ảnh hưởng hoặc phương hại đến lập trường của mỗi bên đối với các quy phạm luật pháp quốc tế về luật biển.

Đường phân định đã dành cho Việt Nam phần diện tích lớn hơn Trung Quốc khoảng 8.205 km2 (tỷ lệ 53,23/46,77).

Căn cứ vào việc áp dụng nguyên tắc công bằng trong phân định và tiến hành đánh giá tính tỷ lệ giữa bờ biển của hai nước (1,1/1) với tỷ lệ diện tích được hưởng (1,135/1), có thể nhận thấy rằng đường phân định trong Vịnh Bắc Bộ đã mang lại một kết quả công bằng và có thể chấp nhận được.

Việc phân định Vịnh Bắc Bộ đã giải quyết một trong ba vấn đề lịch sử để lại trong quan hệ hai nước, tạo cơ hội hợp tác phát triển. Nó cũng góp phần ổn định an ninh khu vực.

Kết quả phân định góp phần chứng minh tính đúng đắn của công thức ba bước mà Tòa án công lý quốc tế đã đúc rút sau này trong Vụ phân định biển ở Biển Đen (Ukraine/Rumani) năm 2009.

Theo đó, một đường trung tuyến/cách đều có điều chỉnh bởi các hoàn cảnh khách quan sẽ mang lại kết quả công bằng. Nó cũng góp phần củng cố xu hướng sử dụng một đường phân định cho cả vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa nhằm tiện lợi cho việc quản lý.

Phản hồi

Các tin khác