Nhận diện thách thức và trách nhiệm của doanh nghiệp trong sứ mệnh bảo vệ môi trường
Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Quyền và trách nhiệm bảo vệ môi trường của doanh nghiệp

Phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường nhằm thúc đẩy tăng trưởng xanh hướng tới phát triển bền vững là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta. Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường”. Quy định này là cơ sở hiến định cho việc xác lập quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm bảo vệ môi trường vì lợi ích của thế hệ hôm nay và mai sau. Chủ thể đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường đó là các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh.

Doanh nghiệp là một tế bào quan trọng của nền kinh tế và là một chủ thể tích cực không chỉ đóng góp giá trị thặng dư cho sự phát triển kinh tế quốc gia mà còn có đóng góp về mặt giá trị xã hội với con người, với môi trường sinh thái. Theo đó, cần đặt trách nhiệm của doanh nghiệp với môi trường và xã hội như là trách nhiệm thực chất và nội tại. Có thể phân trách nhiệm của doanh nghiệp trong thực hiện bảo vệ môi trường thành: (i) Trách nhiệm trong đánh giá về khả năng tác động của dự án đối với môi trường, thể hiện rõ qua trách nhiệm lập và công khai minh bạch báo cáo đánh giá tác động môi trường khi triển khai các dự án đầu tư. (ii) Trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp và tổ chức cá nhân liên quan đến các yếu tố môi trường trong triển khai các dự án đầu tư khi được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu. (iii) Trách nhiệm của doanh nghiệp về phòng ngừa sự cố, ứng phó với sự cố về môi trường do dự án đầu tư gây ra. Doanh nghiệp cần chuẩn bị các giải pháp phòng ngừa và sẵn sàng ứng phó sự cố môi trường xảy ra theo quy định của pháp luật. (iv) Trách nhiệm của doanh nghiệp liên quan đến việc bồi thường thiệt hại. Doanh nghiệp gây thiệt hại về môi trường phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do mình gây ra, đồng thời phải chi trả toàn bộ chi phí xác định thiệt hại và thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định. (v) Trách nhiệm trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp phí bảo vệ môi trường, chi trả dịch vụ hệ sinh thái tự nhiên, ký quỹ bảo vệ môi trường…

Như vậy, trách nhiệm của doanh nghiệp trong thực hiện bảo vệ môi trường nhằm thúc đẩy tăng trưởng xanh hướng tới phát triển bền vững không đơn thuần là việc chấp hành các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, về khai thác tài nguyên mà còn cần nhấn mạnh hơn trong việc chủ động sử dụng, ứng dụng công nghệ, với hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại để sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, ứng phó với biến đổi khí hậu…

Doanh nghiệp Việt Nam với trách nhiệm bảo vệ môi trường

Nhìn chung các doanh nghiệp Việt Nam đều rất tích cực thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường. Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN), trong Báo cáo số 3075/EVN-KD, ngày 3/6/2021 về thực hiện Nghị định 47/2021/NĐ-CP quy định một số điều của Luật Doanh nghiệp đã thể hiện rõ nét kết quả công tác bảo vệ môi trường, các nhà máy điện, trạm biến áp và đường dây điện được thực hiện nghiêm túc và đảm bảo tuân thủ đúng quy định pháp luật. Tất cả các dự án đầu tư mới của EVN đều thực hiện đánh giá tác động môi trường một cách kỹ lưỡng, khách quan. Toàn bộ các dự án nhiệt điện của EVN đều đã được cấp đầy đủ giấy phép xả nước thải vào nguồn nước và xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường theo quy định. 100% các nhà máy điện đều đã lắp đặt các hệ thống quan trắc môi trường tự động liên tục và truyền dữ liệu liên tục gửi về Sở Tài nguyên và Môi trường địa phương. Tất cả các đơn vị thuộc EVN đều thực hiện việc kê khai, nộp và đóng đầy đủ các loại thuế bảo vệ môi trường, phí khai thác sử dụng tài nguyên nước và phí bảo vệ môi trường đối với nước thải theo đúng quy định nhà nước.

Báo cáo phát triển bền vững năm 2021 của Công ty cổ phần Tập đoàn PAN đã chọn chế độ báo cáo theo tiêu chuẩn quốc tế là GRI. Theo đó, kết quả về bảo vệ môi trường của Tập đoàn PAN với cam kết sản xuất bền vững, tiết kiệm tài nguyên đã áp dụng nhiều biện pháp để giảm năng lượng sử dụng trong sản xuất, góp phần đảm bảo nguồn năng lượng ổn định cho khu vực. Từ bộ phận văn phòng với các hoạt động như bật tắt điện văn phòng, sử dụng phương tiện vận chuyển, đi công tác; hoặc cải tiến trong sản xuất, thay đổi thời gian sản xuất sang thấp điểm… đã dần dần tối ưu hóa việc sử dụng năng lượng. Các chất thải sản xuất nếu phù hợp đều được tận dụng làm chất đốt như vỏ cứng của các loại hạt, vỏ trấu, lõi ngô... Ví dụ riêng tận dụng vỏ hạt để làm chất đốt đã tiết kiệm trên 70 tấn than trong năm 2021. Ngoài nguồn năng lượng sạch, các biện pháp cải tiến cũng được liên tục áp dụng để giảm tiêu hao năng lượng. Tiêu biểu như giải pháp liên hoàn máy lạnh, hệ thống MFCA, tuần hoàn nước nóng - nước lạnh, thay thế các thiết bị tiêu tốn năng lượng, sắp đặt lại dây chuyền - máy móc… Đồng thời 100% các nhà máy mới xây dựng đều được lắp đặt những hệ thống máy móc đồng bộ hiện đại, ít tiêu hao năng lượng nhằm đáp ứng cả yêu cầu về công nghệ lẫn thân thiện môi trường. Với vấn đề nước thải, Tập đoàn PAN đảm bảo xử lý nước thải đạt yêu cầu trước khi thải ra môi trường. Với các nguồn nước thải từ nuôi thủy sản, Tập đoàn PAN chủ trương áp dụng theo các tiêu chuẩn như ASC, Global GAP, BAP… Theo đó, nước thải được qua các khâu lắng, xử lý bùn, kiểm tra thông số cho đến khi đạt tiêu chuẩn mới thải ra ngoài. Tỷ lệ diện tích ao lắng luôn được duy trì để đáp ứng lượng nước thải. Nhờ vậy, môi trường nước quanh các vùng nuôi của công ty luôn được đảm bảo an toàn trong suốt thời gian qua, không ảnh hưởng đến cộng đồng xung quanh.

Tuy nhiên, bên cạnh nhiều doanh nghiệp luôn thể hiện rất tốt trách nhiệm của mình trong bảo vệ môi trường, cũng có không ít doanh nghiệp vi phạm pháp quy định bảo vệ môi trường: Thực hiện hoạt động khi không có báo cáo đánh giá tác động môi trường, không tuân thủ bảo vệ môi trường; xả nước thải làm ảnh hưởng đến môi trường; không phân định chất thải nguy hại để quản lý theo quy định của pháp luật, chuyển giao chất thải nguy hại cho đơn vị không có giấy phép xử lý chất thải nguy hại; không thực hiện quy định thủ tục về bảo vệ môi trường và kiểm soát môi trường định kỳ;… như các trường hợp: Sự cố môi trường biển miền Trung do nước thải công nghiệp của Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (công ty Formosa) gây ra năm 2016, thủy sản chết lan trên diện rộng, bắt đầu từ vùng ven biển Hà Tĩnh, lan tiếp dọc ven biển các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế. Sự cố này đã gây thiệt hại nặng nề về kinh tế, xã hội và môi trường, trong đó chịu ảnh hưởng nặng nhất là ngành thủy sản, tiếp đến là hoạt động kinh doanh, dịch vụ, du lịch và đời sống sinh hoạt của ngư dân. Nguyên nhân gây ra sự cố môi trường làm hải sản chết hàng loạt tại ven biển bốn tỉnh miền Trung được xác định do công ty Formosa gây ra trong quá trình vận hành thử nghiệm tổ hợp nhà máy, đã có những vi phạm và để xảy ra sự cố, dẫn tới nước thải có chứa độc tố phenol, xyanua chưa được xử lý đạt chuẩn xả ra môi trường; Công ty Trách nhiệm hữu hạn Bao bì Lâm Huy (tại tỉnh Bắc Ninh) đã bị phạt 415 triệu đồng (tháng 6/2021) và đình chỉ hoạt động 9 tháng do có hành vi vi phạm hành chính hoạt động sản xuất nhưng không có báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt theo quy định; không có hệ thống xử lý nước thải, khí thải, bụi thải đạt quy chuẩn kỹ thuật; thực hiện giám sát chất thải định kỳ không đúng, không đầy đủ; không lập báo cáo quản lý chất thải nguy hại định kỳ theo quy định; không thực hiện kê khai chứng từ chất thải nguy hại theo quy định; Công ty TNHH giấy Krap Phương Yến tại khu Dương Ổ, phường Phong Khê, thành phố Bắc Ninh đã xả nước thải có chứa các thông số môi trường vượt quy chuẩn kỹ thuật cho phép về chất thải từ 14,3 - 24,9 lần ra môi trường, đã bị phạt 200 triệu đồng (tháng 5/2022);….

Thách thức của doanh nghiệp Việt Nam trong sứ mệnh bảo vệ môi trường

Trong việc thực hiện công tác bảo vệ môi trường trong bối cảnh hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức, như:

Thứ nhất, có những tiêu chuẩn quy định quá cao so với thực tế thực hiện của doanh nghiệp. Cụ thể, Công ty cổ phần Tập đoàn PAN cũng đã thể hiện trong báo cáo phát triển bền vững năm 2021 cho rằng, trong chế biến thủy sản việc đáp ứng các quy định về tiêu chuẩn Photpho, Nito trong nước thải là nỗ lực rất lớn của các đơn vị Tập đoàn PAN bởi đây là một yêu cầu rất cao của quy định Việt Nam mà nhiều doanh nghiệp thủy sản không đạt được. Thực tế tiêu chuẩn này đang tỏ ra bất cập so với tình hình chung và so với các quốc gia trong khu vực và đang được xem xét điều chỉnh.

Thứ hai, khó khăn về nhân lực, khi đội ngũ cán bộ của các cơ quan thẩm định và lực lượng chuyên gia trong lĩnh vực đánh giá tác động bảo vệ môi trường còn hạn chế về số lượng và chất lượng, đặc biệt các cơ quan quản lý môi trường cấp huyện, tỉnh miền núi... Bên cạnh đó, trong mỗi doanh nghiệp còn thiếu chuyên viên chuyên trách về môi trường.

Thứ ba, việc triển khai một số quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 còn gặp khó khăn. Đại diện một công ty ngành dệt nhuộm tại huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai cho rằng, việc lắp đặt hệ thống quan trắc môi trường tự động nước thải là cần thiết cho cả doanh nghiệp lẫn cơ quan chuyên môn trong việc kiểm soát ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, nhiều doanh nghiệp còn chưa có khả năng thực hiện thì nên yêu cầu lắp thiết bị quan trắc tự động nước thải đầu vào, yêu cầu kết nối đến cơ quan chức năng để giám sát chất lượng nước sau xử lý. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý nhà nước cần định hướng cho doanh nghiệp loại thiết bị nào phù hợp, quy trình và công nghệ kết nối được với hệ thống giám sát của Sở Tài nguyên và Môi trường. Mặt khác, một số doanh nghiệp cho rằng, quy định lắp đặt thiết bị quan trắc nước thải nên hướng vào trọng tâm là kiểm soát chất lượng nước thải sau xử lý (hậu kiểm), không cần thiết giám sát nước thải đầu vào. Bởi, mỗi cơ sở có rất nhiều loại nước thải, mỗi nhà máy xử lý nước thải khu công nghiệp tiếp nhận nước thải nhiều cơ sở khác nhau, nếu mỗi vị trí đầu vào phải có thiết bị quan trắc thì rất tốn kém mà hiệu quả thấp. Ngoài ra, cần có hướng dẫn chi tiết việc tái sử dụng nước thải trong phạm vi cơ sở để tiết kiệm nguồn tài nguyên nước, giảm cấp nước. Mặt khác, Luật chưa quy định rõ quy chuẩn nào được áp dụng để đánh giá sức chịu tải của môi trường. Cho nên, doanh nghiệp gặp khó khi triển khai làm hồ sơ đánh giá.

Thứ tư, nhận thức về trách nhiệm xã hội trong phát triển bền vững quốc gia còn chưa đồng đều. Kết quả khảo sát của Vietnam Report khi khảo sát các doanh nghiệp BP500 cũng chỉ ra rằng, thách thức thường gặp phải khi thực hiện trách nhiệm xã hội ở nước ta, điển hình như nhận thức về trách nhiệm xã hội mới dừng lại ở hoạt động tài trợ (52%), thiếu ngân sách (36%), thiếu chính sách khuyến khích, hỗ trợ của Chính phủ (32%), không được lan truyền trên truyền thông (24%).

Trách nhiệm và hành động của các doanh nghiệp

Doanh nghiệp trong sản xuất, kinh doanh luôn có trách nhiệm trong bảo vệ môi trường sẽ là chìa khóa thúc đẩy kinh tế xã hội ổn định, bền vững. Tuy nhiên, vai trò của Nhà nước với tư cách là chủ thể kiến tạo động lực phát triển bền vững cần có các cơ chế, chính sách hiệu quả, cũng như tăng cường kiểm tra, giám sát, hỗ trợ cho doanh nghiệp trong việc thực hiện các quy định bảo vệ môi trường. Theo đó, Nhà nước cần thực hiện đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến đến các doanh nghiệp về trách nhiệm bảo vệ môi trường; rà soát quy định, chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường để các doanh nghiệp dễ dàng thực hiện trong thực tiễn như ban hành văn bản hướng dẫn về việc xử lý chất thải rắn thông thường, rà soát lại một số tiêu chuẩn về môi trường để doanh nghiệp thực hiện; xây dựng chế tài đủ mạnh để nghiêm trị hành vi vi phạm của doanh nghiệp bằng cách nâng cao mức xử phạt vi phạm hành chính; mở các lớp tập huấn nâng cao kiến thức cho doanh nghiệp về bảo vệ môi trường; đào tạo nguồn nhân lực cung cấp cho doanh nghiệp nhân sự về môi trường; cải cách tinh gọn thủ tục hành chính dịch vụ công. Trong tiếp nhận đầu tư, cần có cơ chế sàng lọc các dự án của nhà đầu tư nước ngoài, áp dụng chính sách ưu đãi khuyến khích các doanh nghiệp FDI chuyển công nghệ cao vào Việt Nam. Đặc biệt, cần tăng cường đối thoại với các doanh nghiệp để hiểu rõ thêm về khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp trong việc thực hiện quy định bảo vệ môi trường, kịp thời tháo gỡ.

Các doanh nghiệp với tư cách là chủ thể thực hiện cần xác định nhiệm vụ bảo vệ môi trường là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển của doanh nghiệp. Quốc gia chỉ có thể thực hiện được mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng xanh hướng tới sự phát triển bền vững nếu doanh nghiệp luôn nâng cao trách nhiệm của mình trong bảo vệ môi trường. Các doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược phát triển bền vững gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp mang tính lâu dài; tăng cường quản lý, xử lý chất thải, tái chế rác thải, hạn chế, giảm thiểu đồ nhựa dùng một lần, có sáng kiến áp dụng công nghệ tiến tiến vào sản xuất, kinh doanh, góp phần giảm bớt phát thải gây ô nhiễm môi trường và hiệu ứng khí nhà kính, vì cuộc sống xanh cho cộng đồng xã hội; xác định việc thực hiện trách nhiệm xã hội cũng là một hoạt động để qua đó nâng cao quảng bá hình ảnh của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp phát triển bền vững; cần xây dựng nguồn nhân lực chuyên trách về môi trường; tăng cường phối hợp tích cực với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thực hiện quy định pháp luật môi trường.

Môi trường và xã hội cung cấp các tư liệu sản xuất đầu vào và là nơi tiêu thụ các sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp. Điều đó đồng nghĩa với việc doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại và phát triển được khi ở trong lòng môi trường xã hội. Do đó, việc thực thi trách nhiệm của doanh nghiệp với môi trường xã hội cũng chính là thực thi trách nhiệm với chính mình nhằm hướng tới sự phát triển bền vững doanh nghiệp và quốc gia trong bối cảnh hội nhập./.

Phản hồi

Các tin khác